Những người bạn thơ ấu nay lưu lạc chốn nào?

 

Nếu tính về tuổi đời, quả thực tôi còn rất trẻ, trẻ lắm nhưng không hiểu sao lòng cứ hay nhung nhớ những gì đã thuộc về quá khứ, đã trải qua từ lâu. Có khi, bất chợt một chiều mưa rỉ rả ở đất Sài thành cũng gợi lại những cơn mưa lá me rơi đầy ngoài khung cửa sổ của khu tập thể cũ kỹ loang hằn vết rêu. Hoặc đôi lúc vệt nắng xiên xiên vàng quạch trong chiều mùa hạ dựng lại kỷ niệm cũ, mím môi, trợn mắt, hăng hắc cười cùng tiếng bi ve tạch tạch chạm nhau dưới tán cây dương già. Hay đơn giản chỉ là thấp thoáng bóng đôi bạn nhỏ dung tung tăng trên hè phố lại thấy gờn gợn, da diết trong lòng, chúng bạn thời thơ ấu giờ đã lưu lạc chốn nào?

Dạo đó, tôi còn nhỏ lắm, vẫn còn mơ mộng về chốn cổ tích xa xôi, nhiệm mầu, thường dõi mắt qua khung cửa nhỏ nhìn những chùm lá xoài lung lay xào xạc mà tưởng như ở đó có con chim biết nói đang tán gẫu với chú ve. Nhưng ở cái tuổi đó cũng đã biết ghen tị, thèm thuồng khi thấy đồ ăn ngon, thức lạ. Trong khuôn viên khu tập thể, một gia đình thuê của cơ quan khoảng sân rộng phía trái mở quán ăn. Cái gia đình nhỏ ấy có bốn người, người cha râu kẽm phương phi mang cái tợn của ông chủ hàng quán, người mẹ dong dỏng cao gầy mặt thoáng nét buồn, tay chân không ngơi nghỉ, lại sinh một trai, một gái ăn nhiều, học giỏi. Quán mở rất đông khách. Tôi từng ghen với hai đứa con bởi chúng được ăn đầy thức ngon, được ngủ nệm ấm và được xem vi-đê-ô mỗi ngày. Còn nhớ năm đó cây chùm ruột sát góc tường bao khu nhà sai trái dữ lắm, từng chùm cứ lúc lắc bắt thèm, chảy cả nước miếng nhưng tôi lúc ấy gầy còm, lại nhát gan, sợ té nên không dám trèo lên hái, chỉ dám đứng nhìn mà mơ ước. Thằng anh nhà ấy vốn cao to khỏe mạnh, đu leo lên cành mà mang xuống cả rổ chùm ruột cho đứa em chấm muối nhâm nhi, tôi đứng tần ngần, muốn xin nhưng không mở lời được cứ nhìn từng trái một được nút chùn chụt trong nụ cười khoái chí của chúng mà máu giận dỗi trong lòng tôi càng lúc càng sôi sục. Với lấy hòn đá bên cạnh, đứa con gái chảy máu đầu, kết quả là tôi bị mẹ cho trận đòn nhừ tử, từ lúc đó tôi càng ghét hai anh em nhà đó. Rồi thời gian sau, ông chủ quán bất ngờ phát hiện mình bị ung thư gan, bao nhiêu tiền bạc buôn bán dành dụm được theo ông xuống mồ. Hàng quán bay. Từng cục gạch tàu lót nền cũng bị khựi lên đem bán. Ba mẹ con dắt díu nhau đi đâu không rõ. Qua lời kể chấp nối của người lớn, tôi chỉ biết họ đi trốn nợ ở nơi xa lắc nào đó. Một gia đình tan đàn, hai tương lai tắt ngấm! Một tổ ấm xẻ nghé, ba mảnh đời lưu lạc. Thỉnh thoảng nghĩ lại, chạnh lòng buông tiếng thở dài!

Chẳng biết phải cái duyên hay không mà từ nhỏ tôi đã hay thân với nhiều chị bạn hơn tuổi. Mẹ thường nói rằng: Con Muỗi nếu ốm đi chút thì đẹp lắm! Chị bạn tôi vốn là con bà bếp ở mướn của quán nhậu, dáng đậm người, gương mặt hồn hậu, làn da ngăm đen nhưng láng o. Chị hơn tôi ba tuổi, mang cái tên thật dung dị mà gần gũi quá đỗi: Muỗi, hàng ngày hay tranh thủ giờ thưa khách mà chơi lò cò nhảy dây với chúng tôi. Tôi còn nhớ mãi cái nhoẻn miệng cười tươi rói mỗi khi chị thắng chúng tôi trong những trò chơi con trẻ. Chị thường ngồi xem chúng tôi học bài hoặc nhờ chúng tôi đọc truyện cho nghe. Mỗi dịp đó, tôi lại đòi đổi chầu kem, chầu bánh và cứ vô tư chọn thứ mắc nhất – cũng là ngon nhất trên quầy quà nhưng chị vẫn vui vẻ mua cho. Một lần như vậy tôi lại bị mẹ mắng mà lòng ấm ức vô cùng, chẳng qua đó là sự trao đổi công bằng thôi mà! Rồi khi cái quán nhỏ tan tành theo ông chủ, tôi không còn gặp chị Muỗi, nghe nói rằng chị đi ở cho nhà nào đó xa xôi. Mãi sau này tôi mới biết, từ nhỏ chị đã bị ba bỏ rơi, lớn lên đi làm mướn phụ mẹ, không được đi học. Với chị, biết chữ mãi là giấc mơ xa vời. Không biết bây giờ Muỗi lưu lạc nơi nào, cho tôi gửi lại chút hối hận, ân tình năm xưa?

Tôi vốn tuổi con Mèo, có bà dì gọi Mão riết rồi chết tên. Năm đó, cơ quan mẹ cho người ta thuê thêm cái sân trống bên phải mở quán cà phê. Vậy là, trong cái đám con nít lộn xộn hay tụ tập bắn bi lại xuất hiện một thằng gầy nhom có cú cu-lê điệu nghệ – thằng Tí – cháu bà chủ quán cà phê. Tôi vốn lớn hơn nó một tuổi, tôi cao, nó thấp, tôi đậm, nó gầy nhom, tôi học rất khá, bắn bi dở ẹc, nó học í ẹ mà bắn bi thiện nghệ, tóm lại tôi với nó hình như là hai mặt đối lập nhưng lại bổ sung cho nhau, làm nên cặp Mão-Tí “song hùng” giữa giang hồ khu tập thể. Thằng Tí rất hay cười, làm trò rất khéo, lại đầu têu trong các phong trào nhảy dây, lắc vòng giảm béo ở khu tập thể. Nếu có ai hỏi: “Ba, Mẹ mày đâu Tí?”, nó hồn nhiên trả lời ngay: “Ba đi đá gà, mẹ đi bán bia ôm rồi!”. Lắm lúc tôi thấy ganh tị với nó vô cùng, nó được tự do bay nhảy, làm những gì mình thích, không ai la rầy cả, lại được các cô, dì, chú, bác

thương vì sai gì cũng làm. Lần nọ, tôi xách kiếm nhựa múa tít những chiêu thức kiếm hiệp học lóm trong phim, chặt gần trụi lá cây sứ trước cổng cơ quan mẹ rồi đổ thừa cho nó mà hả hê vô cùng. Nó bị mắng vốn, bị mắng nhưng vẫn cười và vẫn chơi với tôi thân thiết. Tí à, tao còn nhớ mãi những nụ cười của mày, tao còn nợ mày sự vô lo và bình an. Nếu mai này có dịp, tao muốn cụng với mày vài ly, như những thằng đàn ông cười với nhau nụ cười thơ trẻ!

Thời gian cứ trôi mải miết, chục năm vèo qua đi, những chục năm khác cũng sẽ nhanh đến không ngờ! Đến lúc giật mình, nhìn quanh tự hỏi, người năm cũ đi đâu mất? Nếu có một chuyến tàu chở ta ngược lại thời gian xin cho tôi một vé để được thấy lại chính mình năm xưa nắc nẻ cười cùng chúng bạn, để được đắm chìm trong huyên náo của khung trời thơ ấu. Nhưng thực tế chẳng có con tàu nào như vậy, thôi thì đành gửi lưu luyến, nhớ thương vào những khoảnh khắc bất chợt bật tiếng gọi tên người năm cũ.

Phan Khắc Huy

 

Thương tặng T. người con gái đặc biệt của tôi.


Có một buổi mây chiều gió sớm, nhẹ bước rong chơi trên những nẻo phố phường, tự cho phép mình nhẩn nha buồn, một nỗi buồn miên man mà da diết gợi nhớ về những kỷ niệm xưa cũ. Nhiều khi, chợt trông thấy lá bay phơ phất trong cơn gió hiu hiu mà lòng lại se sắt nhớ cái xao xác của cây lá miệt vườn buổi trưa hè râm mát, hay đơn giản c
hỉ một tiếng bánh đổ xèo lên chảo mà chạnh lòng như thấy gờn gợn khói bay từ chái bếp nho nhỏ khuất sau hàng hiên mái lá. Bao nhiêu phồn hoa, yêu kiều của Sài Gòn phố thị đã từng quyến rũ bước đi hoang của kẻ lang thang đất khách bỗng chốc tan biến, nhạt nhoà, nhường lại cho hương bánh xèo thoang thoảng bay từ một quán bình dân ven đường, làm nở ra những âu yếm, êm dịu, ngọt ngào của những năm tháng được tưới tắm tâm hồn trong dòng sông trĩu năng phù sa quê nhà.

Nghĩ cũng lạ, không hiểu sao có lúc lòng người lại trở nên tha thẩn và mỏng manh đến vậy, nhìn chiếc bánh xèo được xếp khéo lên dĩa là lại buồn nhè nhẹ. Nếu như người xưa mượn tiếng con chim cuốc, chim đa đa khắc khoải mà trải lòng nhớ nhung cảnh cũ giữa thay đổi dâu bể tang thương thì nay kẻ phàm tục này đành mượn món bánh xèo dân dã để gửi nỗi niềm tha thiết luyến mến quê hương cũng như gửi chút tình cho những ai đang trĩu nặng tâm sự nơi xa xứ.

Giữa đêm khuya thanh vắng nào đó, ngoài ngõ dấm dẳng tiếng chó sủa ma, hàng hiên xào xạc tàu dừa khua khoắng, trong ánh đèn dầu leo loét, cụ bà nam bộ, tóc bạc phơ phơ, gương mặt hiền hậu vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa xoắn cao ống tay áo bà ba cho gạo tẻ vào ngâm nước để kịp sớm mai xay thành bột đổ bánh xèo đãi đứa cháu trai từ phương xa trở về. Công thức làm bánh xèo mỗi vùng đất, mỗi khác nhau chỉ duy có bột là chỗ nào cũng phải có. Phải là gạo tẻ ngon, ngâm qua đêm tự tay xay thành bột mới làm nên cái bánh thật thơm giòn. Bánh xèo Nam bộ dùng những nguyên liệu sẵn có chứa đựng cái tình của đất, của sông nước miệt vườn. Bột gạo xay khéo hoà vào chung với nước cốt dừa sao cho đều, không lợn cợn, thêm ít mặn của muối, ít ngọt của đường, chút bột nghệ, có nơi cho thêm lòng đỏ trứng gà hay quả lê-ki-ma như bí quyết riêng của người làm bánh, rồi nhất định phải có chút hành lá xắt mỏng thêm vào cho phảng phất mùi thơm. Phần bột đã xong, giờ là phần nhưn bánh, bao gồm những miếng thịt ba rọi tươi mới xắt vừa ăn, ít tép bạc vừa xúc xào chung với đậu xanh cà, giá sống hay củ sắn. Nói như một chuyện gia dinh dưỡng, nhưn bánh là tổng quan hoà quyện giữa đạm thực vật và đạm động vật, mà trong khía cạnh động vật có cả con chạy trên bờ, con bơi dưới nước.

Có nhà văn khi ăn bánh cuốn bảo rằng: “Đương ăn ngon, mà gần hết, thiếu mất đi một tí nước mắm… có thể coi như là hỏng một bữa quà”. Bánh xèo cũng vậy, đương ngốn ngấu mà thiếu đi nước chấm tự nhiên thấy cụt cả hứng, mất cả ngon mà trong lòng hậm hực. Bánh xèo ngon, nước chấm cũng phải ngon. Nước chấm cần được pha trước để kịp hoà vào giòn tan, thơm lừng, bùi ngọt của bánh xèo vừa đổ xong làm sảng khoái cái thần khẩu. Nguyên liệu bao gồm nước mắm ngon, nước dừa tươi, chút giấm, pha cho vừa miệng, thêm vào tỏi ớt đâm nhuyễn kèm ít dưa chua. Nước chấm ngon phải có màu hổ phách, thiệt trong, có mùi nồng của tỏi, vị chua, cay, mặn ngọt quyện chặt nhưng tỏi và ớt không được lững lờ nơi đáy chén mà phải nổi lên trên. Nếm tí thôi mà bao nhiêu tuyến nước bọt đều tứa ra dào dạt.

Đã có đủ cả vị mà thiếu đi cái sậm sựt, giòn tươi của rổ rau “hằm bà lằng” thì bữa bánh xèo hôm đó thoạt đầu thì ngon nhưng nhanh ngấy đến lợm giọng. Ăn bánh xèo mà thiếu rau thì chẳng khác nào nghe bài ca vọng cổ thiếu mất tiếng “tơ” dìu dặt. Rau ăn bánh xèo đủ các vị chua, chát, đắng, cay, nồng của “hương đồng cỏ nội”, mà người dân quê gọi là rau vườn như lá cách, lá lụa, lá kèo nèo, đọt xạn, lá non lụt bình, đọt xoài, đọt điều, cải bẹ xanh non, rau vừng, rau chiết, lá cát lồi, các loại rau thơm, … đủ thứ, mùa nào rau đó, là những thứ có thể nhanh tay bứt được trong khi dạo bước trong những líp vườn thẳng tắp. Càng nhiều loại rau càng làm nên sức hấp dẫn, quyến rũ của bữa bánh buổi trưa hè.

Mọi thứ chuẩn bị xong, cụ bà Nam bộ hiền từ mới nhóm lò chờ cho lửa lụi gần tàn nhưng than còn hồng rực, bắc chảo lên, dùng đôi đũa xiên vào miếng mỡ heo mà thoa đều lên chảo nóng rồi từ tốn múc từng vá bột đổ cái “xèo” vào chảo, cụ bà nhanh tay, uyển chuyển xoay chảo sao cho bột được tráng đều, mỏng, giòn mà không rách. Tiếp đó, cho thêm nhưn bánh lên trên, dùng nắp vung to đậy lại, khi bánh đã chin đều, cụ dùng xạng gấp đôi lại, xúc ra dĩa đã lót sẵn lá chuối tươi. Cứ thế từng lớp bánh được sắp ra trong háo hức đợi chờ của người con phương xa mới về. Vệt nắng ban trưa xiên qua kẽ lá như làm rạng rỡ thêm nụ cười móm mém hồn hậu của cụ bà nhìn đứa cháu đang ngốn ngấu.

Nhón tay bốc lấy nhúm bánh thơm giòn gói ghém vào “nùi” rau xanh mướt mát rồi chấm ngập nước chấm, nhai rào rạo như muốn nuốt trọn cả tính tuý của miệt vườn Nam bộ. Nín thở cho thức ăn trôi vào thực quản rồi thở ra khoan khoái, bẽn lẽn cười trừ cho cái tánh tham ăn của chính mình. Tản Đà thi sĩ đúc kết rằng bữa ăn ngon phải hội tụ đầy đủ: đồ ăn ngon, chỗ ngồi ăn ngon, người ngồi ăn ngon. Ăn bánh xèo cũng vậy, kẻ tham ăn này đã từng rong ruổi trên những ngả Sài thành nếm thử những hàng bánh xèo có tiếng, nhưng chẳng nơi nào làm cho cái tánh hay ăn trở nên thanh thản mà khoan khoái. Phải chăng đó là vì con tép bạc tươi mòng giòn rộp mà bình dị đã bị thay bằng con tôm to đùng nhưng bơ bở. Cũng có thể đó là vì cái bánh xèo được đổ bằng chảo nhôm trên bếp ga lửa to phừng phực, thay cho chảo gang trên lò than nồng đượm khiến cho mặt chảo nóng hỗn, nhiệt toả không đều làm bánh mang ra bên ngoài tuy giòn mà nguội lạnh dù cho bên trong vẫn nghi ngút khói, không chỉ vậy cái rìa giòn tan ấy lại mất đi phần chuyển tiếp vào nơi mềm mịn kết dính lấy nhưn, rìa và ruột chỏi nhau như bản giao hưởng lệch nhịp chẳng êm tai. Nhưng cái chính là những bữa bánh hàng quán đó bị mất đi không gian thoang thoảng gió mát trưa hè trong rào rạt cùa màu xanh miên man cây lá, thiếu vắng tiếng nói chân chất bình dị xen lẫn tiếng cười giòn tan sảng khoái của những đứa con miệt vườn đang ngấu nghiến tinh tuý của đất mẹ. Để rồi khi chân đã rời quán mà lòng vẫn trĩu nặng nỗi thòm thèm cái bánh xèo dung dị được nêm vào đó gia vị của tình đất tình người nơi thôn dã.

Cái bánh của quê hương do chính tay người bà, người mẹ Nam bộ đổ cho người con, người cháu tha hương muốn tìm lại thanh thản, nhẹ nhõm nơi tâm hồn sao mà làm khoái chí cái thần khẩu đến thế. Bụng no nê mà lòng khoan khoái ngẫm nghĩ đến mấy câu ca của ông bà đã dạy “Bánh xèo là cái bánh xèo Đổ bột tráng bánh cái vèo là ăn”/ “ Bánh xèo là cái bánh xèo Khi ăn phải bốc giàu nghèo như nhau”. Triết lý bình đẳng ẩn sâu trong cái bánh xèo ấy phải chăng chính là nền tảng hình thành nên tánh cách và con người Nam bộ, mộc mạc mà bình dị, yêu thương thuận hoà, đầy ắp tình nghĩa bà con xóm riềng.

Nếu có người hỏi trong nhà, gian nào là quan trọng nhất, tôi xin đáp chắc nịch rằng đó là gian bếp. Bếp nhà ai quanh năm ấm nóng thì nhà đó luôn yên ổn trong ngoài, gia cang hoà thuận. Vậy nên trong buổi trưa hè xèo xèo chảo bánh nóng rẩy đó càng rôm rả tiếng trò chuyện, càng đông người quây quần trong chái bếp, quanh bếp than rực hồng thì cái phúc của con cháu trong nhà đơm thêm đầy ắp. Bữa ăn bánh hoà quyện những vị, hương, thanh, sắc chân quê ấy là tài sản vô giá mà người con ly hương xa xứ mang theo trong hành trang của mình để rồi có những chiều tất tả cơm bụi, cơm bờ nơi đất khách chợt chạnh lòng hướng về quê cũ, tự nhủ với mình rằng sẽ có ngày ta trở về làm rạng danh nơi nhau rốn.

Nhiều khi, con tì con vị réo gọi cồn cào mà thần khẩu lại nhàn nhạt, nuốt chẳng trôi được dĩa cơm ven đường. Tấp vào hàng quán bánh xèo bình dân nhưng lại thấy ngao ngán bởi phải một mình gặm nhắm nỗi buồn, nỗi nhớ tha thẩn hương lửa đượm nồng. Chẳng biết tỏ cùng ai đành thả lòng trôi nhẹ theo chiếc lá me bay theo dòng người giữa phố. Chợt trong lòng nảy ra một ý, tủm tỉm cười khoái chí như đứa trẻ tinh ranh được quà sau khi vờ nũng nịu. Cuối tuần này nhé, “dụ dỗ” “cô Bắc kỳ nho nhỏ” có lòng thương chàng trai miệt vườn vào bếp làm thử món bánh xèo Nam bộ để cho tình Bắc duyên Nam thêm ấm nồng cùng hương bánh ngào ngạt. Chỉ mới nghĩ thôi mà đã thấy hứng khởi đến lạ!

Phan Khắc Huy




Hồi nhỏ, mưa chỉ đơn giản là tiếng cười nắc nẻ tóe nước bên hàng hiên mái ngói, hay tiếng hò reo theo con thuyền giấy gấp vội trôi theo dòng nước trước ngõ nhà. Lớn lên một chút, mưa thành những suy tư vội vàng trên cành lá trĩu nước, xanh mát miên man. Rồi không biết tự lúc nào hóa thành cái xao lòng vương theo tà áo tinh khôi phất phơ bay giữa chiều mưa bụi trên con đường đầy lá me rơi. Và bây giờ, thấp thoáng trong mưa là đôi mắt buồn vời vợi mang tên “em” của một thời kỷ niệm …

“Chiều nội trú bâng khuâng
như đôi mắt ai ngày nào tao ngộ
Chiều nội trú bâng khuâng
như đôi mắt ai vời vợi tha thiết
Ánh mắt thật gần mà cũng thật xa
Ôi yêu thương quá ánh mắt êm đềm
Mong tình yêu cho hồn trở lớn khôn thêm”

Có một chiều nội trú, mênh mang theo những cảm xúc của thuở bắt đầu mơ mộng, biết buồn, biết nhớ. Có một chiều nội trú xa xăm tơ tưởng. Để rồi khi bất chợt nhận ra có ánh mắt ai da diết quá khiến lòng bồi hồi đến lạ, vừa trông chờ, vừa nghi hoặc, phân vân. Tâm hồn rộng mở đón nhận những rung động đầu đời đang chớm nở hoài mong, vương vấn. Nguyễn Trung Cang đã dùng giai điệu dịu dàng mà dè dặt, ngọt ngào nhưng thoáng chút ưu tư mở đầu cho nhạc phẩm “Bâng khuâng chiều nội trú” để khơi gợi lại cái thuở ban đầu lưu luyến ấy trong miền hoài niệm riêng của mỗi người. Giữa khung trời nội trú bâng khuâng đó, một tâm hồn đang bẽn lẽn rũ đi thơ dại mà trở mình biết suy tư.

“… Là một thoáng mây bay trong đôi mắt ai một ngày nắng đẹp
Là một thoáng giăng mây trong đôi mắt ai một ngày u ám
Ánh mắt mơ hồ phủ kín hồn tôi
Nghe sao chới với có thể quên người
Mưa chiều nay cho hồn tôi luống bâng khuâng…”

“Đôi mắt ai” sao trở nên thân thuộc quá, tình cảm trong sáng ấy từ sự chớm nở dần thành sâu đậm. Mắt ai vui thì hồn ta trong trẻo, mắt ai buồn thì hồn ta u ám. Không chỉ còn là xao động nhất thời, ánh mắt yêu thương giờ đã ngập tràn cả cảm xúc tương tư. Ôi, ánh mắt lãng đãng như mây trời, đam mê say sưa, níu bước ai trong những chiều nhẹ rung mênh mang cơn mưa. Không rõ cơn mưa đầu mùa là khách thể đồng cảm, góp thêm nỗi da diết hay chính là chủ thể trữ tình đang rì rào trong man mác bâng khuâng.

“… Mưa đầu mùa hạt nhỏ long lanh
Mưa quấn quít giọt dài giọt vắn
Mưa hỡi mưa ơi có bao giờ nhớ nắng
Sao ta buồn lại nhớ thương nhau
Mưa tình đầu nghe rất mong manh
Mưa tí tách thì thầm trên ngói
Em có nghe mưa tưởng chăng lời anh nói
Rất nồng nàn ngọt tiếng: yêu em…”

Có chiều nào miên man như chiều mưa ký túc, lặng nhìn mưa rơi, lặng nghe tiếng tí tách, lòng bồi hồi thầm ghen với những hạt mưa nhỏ có đôi, đang rì rào ca khúc tự tình. Để rồi, ta mượn thanh âm của mưa gửi đi chút tương tư thương nhớ, gửi đi lời tỏ tình đầu hạ. Nhạc vừa réo rắt, vui say, vừa nồng nàn, dịu nhẹ như mối tình đầu trong khung trời ký túc, làm dâng trào những cảm xúc vụng dại mà lãng mạn vô cùng… Từ trong khoảng xa xôi chợt trở về ánh mắt mê đắm năm cũ. Và, biết đâu trong chiều mưa hạ nào đó, ta lại thành ta của những ngày xưa, giũ đi những oằn nặng của cuộc đời, của thời gian, để cho tâm tưởng lại bay bổng cùng những thanh âm rào rạt mà mỉm cười cùng nuối tiếc yêu đương xa xưa.

Bản nhạc không chỉ hay mà còn lạ bởi nó được phổ từ hai bài thơ của một cô sinh viên ngành tư pháp. Nguyễn Trung Cang, một trong những ông vua nhạc trẻ của miền Nam trước 75, đã thổi giai điệu đầy suy tư mà ngọt ngào để chấp cánh cho hai bài thơ trở thành lời tự sự cho những ước mơ đã nguôi ngoai, cho những mối tình đã phôi phai cùng với khuất xa hình bóng cũ. Rồi, bất chợt một ngày, ta bỗng giật mình nhận ra, ngoài kia trời vẫn đang mưa rả rích. Mưa vẫn như người tri âm ngày đó để ta nhắn gửi yêu thương, ve vuốt nỗi niềm, chỉ có ta là thay đổi quên đi ân tình dào dạt thuở ấy. Mưa đang tí tách rơi trên mái hay đang hát lại bản tình ca năm cũ ?

Nếu như Phạm Duy có những chiều chủ nhật Duy Tân hẹn hò đây đó, “uống ly chanh đường, uống môi em ngọt” dạt dào kỷ niệm, thì Nguyễn Trung Cang lại có những chiều mưa nội trú bâng khuâng vời vợi thương nhớ. Hãy dành chút thời gian lắng lại, nghe Tuấn Ngọc ru hồn bên tách cà phê thơm lừng, mở cửa thời gian cho kí ức ùa về, buông lòng cho giai điệu lả lướt xoa dịu đi nhọc nhằn, hằn học tầm thường, để hạt giống thanh thản nảy mầm trên mảnh đất tâm hồn màu mỡ.

Phan Khắc Huy
Hàn Mặc Tử đã có những câu như thế này: “Trong làn nắng ửng : khói mơ tan / Đôi mái nhà tranh lấm-tấm vàng / Sột-soạt gió trêu tà áo biếc / Trên giàn thiên-lý bóng xuân sang…” Xuân đã chớm về theo xanh tươi cành lá, trong mơ màng khói tỏa cùng chút nắng hồng ửng lên mái nhà tranh. Chỉ với vài câu chữ, một bức tranh xuân tuyệt đẹp, vừa rực rỡ, vừa dịu nhẹ đã mang đến cho người đọc thoáng mơ màng, bâng khuâng. Đó là tài của Hàn thi sĩ vậy!

Nếu như trong thơ ca, câu chữ là men say của sự chưng cất cái tứ, cái tình, thì trong âm nhạc, mỗi nốt nhạc có thể là một cung bậc của cảm tính, là sự giao thoa của những run rẩy, choáng ngợp, bềnh bồng hay mênh mang, dịu dàng, thanh thản trong miền thế giới riêng của thính giác. Mùa xuân cùa Hàn thi sĩ dịu mát đến say lòng người đọc. Mùa xuân trong “Hoa xuân” của Phạm Duy tươi tắn rộn ràng mà cũng không kém phần thi vị.

”Xuân vừa về trên bãi cỏ non
Gió Xuân đưa lá vàng xuôi nguồn”

Nét nhạc đơn giản chỉ với 4 nốt “đô, mi, sol, la” nhưng ta đã thấy xuân về nhè nhẹ, êm ái như lời ru. Cái lạ của khúc mở đâu ở đây là tại sao Phạm Duy lại đưa hình ảnh của lá vàng vào đầu của khung cảnh mùa xuân? Phải chăng ông muốn gửi gắm rằng sự kết thúc chính là mở đầu cho hồi sinh? Là vàng rụng về cội để cho chồi non đâm lộc? Xuân của Phạm Duy đã bắt đầu từ lúc lá vàng rơi xuống, xuân của Phạm Duy là xuân của nguồn cội. Ta cảm được tiếng lá rơi tuy rơi nhẹ nhưng là sự lẩy nhịp tạo nên bước chuyển của không gian khiến bức tranh xuân bừng lên từng mảng rực rỡ:

“Hoa cười cùng tia nắng vàng son
Lũ ong lên đường cánh tung ròn”

Xuân không chỉ có sắc mà còn có hương, không chỉ có “tĩnh” mà còn có “động”. Hình ảnh của ong bướm vui đùa bên bên cái e ấp, thanh tân của hoa xuân rất sống động với hai chữ “tung ròn” hạ xuống cuối câu nhạc. Dường như trong hình ảnh lại cài hình ảnh, trong thanh âm lại lồng thanh âm tạo nên sự náo nức, giòn giã của tâm hồn đang dần đắm trong gió xuân đang về trên cành lá.

“Hoa chẳng yêu lũ bướm lả lơi
Muốn yêu anh vác cầy trên đồi
Hay là yêu chiến sĩ nghìn nơi
Thấy hoa tươi cười bỗng thương đời.”

Đã có “hương”, có “sắc”, “âm thanh” nhưng nếu thiếu cái “tình” thì chưa phải là xuân đúng nghĩa. Tình xuân ở đây là tình của thiên nhiên, đất trời, hoa lá, tình chân thành dành cho những con người đang cần cù xây dựng, bảo vệ quê hương chứ không phải cái tình hời hợt lả lơi, vụn vặt, ve vãn tầm thường. Hoa bừng lên sức sống để vun đắp chứ không phải để tô điểm hào nhoáng giả tạo. Nhạc cứ trôi dìu dặt mà nhẹ nhàng, mang cái xuân sắc thơ tình quyện vào lòng người nghe làm dậy nên niềm lạc quan khó tả. Không réo rắt, không dồn dập, xuân cứ dịu dàng mà tràn ngập.

“Xuân! Hoa còn tươi mãi
Hoa vì nhân thế biết sum vầy cuộc vui
Xuân! Hoa nở vì ai
Tay nhịp bàn tay cùng đắp xây ngày mai…”

“… Có một chàng thi sĩ miền quê
Ngắt bông hoa biếu người xuân thì
Có một đàn em bé ngoài đê
Hát câu i tờ đón Xuân về”

Bức tranh xuân dần hiển hiện ra đầy đủ từng mảng màu tươi tắn, khoảng khoát nhưng có lẽ sẽ kém sinh động nếu thiếu mất đi chủ thể cùng hòa nhịp theo từng bước xuân về. Nhành hoa mà chàng thi sĩ ngắt tặng cho nàng không rõ là hoa gì nhưng có lẽ hương thơm của nó đã ngan ngát qua khung nhạc, đem đến sự miên man, say đắm. Và trên bước đường làng xôn xao tiếng mục đồng đánh vần con chữ cho rộn ràng thêm xuân sắc. Hoa xuân, hoa của tình yêu ngọt ngào, hoa của tâm hồn trẻ thơ bừng nở trong chớm chạm vào ánh sáng của tri thức. Hoa trở thành người hay người cũng chính là một bông hoa đang khoe hương sắc giữa mùa xuân cuộc đời. Cánh nhạc đơn sơ chỉ phác họa vài nét chấm phá mở toang ra thế giới mùa xuân rất riêng của miền thính giác, âm thanh trở thành màu sắc, trở thành hình họa, dựng nên bức tranh của mùa xuân.

Hình như đã không còn ranh giới giữa thính giác, thị giác, cảm giác, ta nghe để cảm, cảm để nghe. Xuân cũng không còn là hình ảnh hiển hiện ra mà lại tan theo sóng âm tạo thành phép màu, thôi thúc sự chuyển động của chủ thể. Chủ thể đó không phải gói gọn trong câu chữ bản nhạc nữa, chủ thể đó bao gồm luôn cả ta, cái ta chìm trong vi diệu của âm nhạc.

“… Những đoàn người trên luống cầy nâu
Thấy hoa xuân phép lạ ra màu
Bỗng nhủ lòng ra sức cầy sâu
Tiếng ca như thể tiếng kinh cầu
Hoa bèn yêu bóng dáng cần lao
Bắt tay nhau tránh cuộc cơ cầu
Người cùng mùa đã thoát vực sâu
Sức reo hoa nở lúc Xuân đầu…”

“… Xuân! Hoa tỏa hương mới
Nhân quần ân ái đã kêu đòi niềm vui
Xuân! Hoa là tình tôi
Đua nở cùng ai cùng quyến luyến mọi nơi…”

Lời nhạc đẹp đầy chất tượng hình và giàu sức biểu cảm, lay động lòng người. Thiết nghĩ không cần phải bàn thêm nữa bởi câu chữ để bình lúc này gần như bất lực trước lối diễn tả quá tuyệt vời của nét nhạc. Ẩn sau sự đơn sơ, nhẹ nhàng mà đơn giản của từng nốt nhạc là từng lớp hình ảnh sắc nét, sống động mang đậm cảm xúc của tâm hồn con người đang rung động trước vẻ đẹp của mùa xuân đất trời, mùa xuân con người. Mùa xuân là mùa của mùa của hạnh phúc, là mùa của sự thỏa mãn những niềm vui mang tính nhân bản trong sự giao hòa với thiên nhiên. Âm nhac lúc này đã trờ thành văn chương, thành hội họa.

“Có một bầy thôn nữ nhìn hoa
Chúc cho Xuân vui vẻ thái hoà
Có một vài tóc trắng thầm mơ
Ước cho hoa nở mãi không già”

Hẳn là có sự sắp đặt trong đoạn cuối của bản nhạc này. Đây là đoạn nhạc của luân chuyển thời gian. Thanh xuân được đặt cùng với bạc đầu tạo nên sự quay vòng không tránh khỏi được của thời gian. Phạm nhạc sĩ đã gửi gắm mơ ước xuân sẽ mãi trường tồn cũng như mong ước cái thanh xuân của đời người sẽ được tiếp nối trọn vẹn để vun đắp nên không khí vui vẻ, thái hòa – một ước mơ của nhân thế muôn đời!

Xét về nhạc lý, “Hoa xuân” thật giản đơn, không có những đoạn dồn dập cao trào, không có những đỉnh cao mê mẫn. Xét trong hoàn cảnh sáng tác, năm 1953, ta còn nhận thấy bản nhạc là sự rung cảm hết sức tinh tế của tâm hồn của người nghệ sỹ trước sự kì vọng vào mùa xuân thanh bình của đất nước mà mỗi một con người chung tay xây dựng, bảo vệ là một đóa hoa xuân khoe hương sắc, không bao giờ tàn cùng mùa xuân chung dân tộc. Bản nhạc cứ dịu nhẹ đi vào lòng người, chậm rãi vẽ nên bức tranh sinh động của thiên nhiên đất trời trong thanh sắc mùa xuân, ở đó có chuyển động của hình họa, có quay vòng của thời gian. Âm nhạc đạt đến cảnh giới khác, hòa trộn vào đó cả văn chương, cả hội họa như một thước phim điện ảnh. Những nốt nhạc tưởng chừng như đơn giản nhưng khắc họa nhiều mảng, nhiều hình tượng tạo nên không gian sâu lắng mà rộn ràng, mênh mang mà tươi tắn đồng thời cũng gửi gắm tình cảm, ước mơ mang đậm tính nhân văn, nhân bản. Đó là cái tài của Phạm nhạc sĩ vậy!

Phan Khắc Huy.

Có người nói “Một ngày không ăn mắm, không phải là người Việt Nam”. Chắc hẳn những nhà y tế mô phạm sẽ phản đối kịch liệt rằng trong mắm có nhiều chất nitrosamin gây ung thư lắm đó! Biết làm sao được khi trong tâm hồn của mỗi người Việt Nam, nhất là những đứa con của sông nước miệt vườn, đã đượm đà tình con mắm.

Đồng ý rằng khắp cả dải đất hình chữ S này đâu đâu cũng có mắm nhưng nói về sự đa dạng, Nam Bộ vẫn đứng đầu. Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có rất nhiều loại mắm: mắm cá lóc, cá rô đồng, cá trê vàng ở miệt rừng U Minh, Cà Mau, mắm Thái Châu Ðốc, mắm còng, tôm chua Gò Công. Sách Gia Định thành thông chí viết: “Người Gia Định ưa ăn mắm, có người trong bữa ăn, ăn hết hai ống mắm, độ hơn hai mươi cân, để làm trò vui trong khi thi cuộc đố nhau”. Cái “tánh ưa ăn mắm” đã trở thành nét chung của cả cộng đồng quần cư trên lưu vực đồng bằng hạ lưu sông chín nhánh. Con cá mắm đi vào thơ ca văn học, trở thành hình tượng dung dị, gần gũi, mặn mà cái tình của hương đồng gió nội “Con cá làm nên con mắm / Vợ chồng nghèo thương lắm mình ơi”.

Mặt trời gần đứng bóng, trải nắng chang chang lên đồng ruộng, làm oằn nặng bước chân bì bõm của bác nông dân chân lắm tay bùn. Buổi làm đồng từ hừng đông tạm dừng, tiếng nói cười gọi nhau í ới, huyên náo cả góc ruộng ban trưa. Ở một khoảnh đất nẻ chân chim nào đó, trong bóng mát rì rào rười rượi của tán cây gòn, cây ô môi bày biện rổ rau tập tàng xanh mướt đầy ắp lang, sam, muống, má… cạnh những cơm trắng tinh còn ấm đượm, và kìa trung tâm của sự ẩm thực dân dã là hủ mắm tép chua có cái đỏ au của tép “chín”, của ớt, cái giòn giòn ngà vàng của đu đủ ngâm vừa, của những lát tỏi chua, chỉ nhìn thôi đã làm vơi đi bao mệt nhọc của nghề nông. Thò đũa gắp một nùi rau, chấm vào trong nước mắm, bỏ vào miệng nhai rào rạo rồi lại gắp, gắp nhỏ thôi ít mắm đầy đủ cả tép, đu đủ, cả tỏi, cả ớt cay cay đầu lưỡi rồi và một hơi cơm, ngốn ngấu cái sậm sựt của rau, cái mềm mại, chua cay, dìu dịu mà mặn mà của mắm, cái thơm tho, ngòn ngọt của cơm trắng. Rau, cơm, mắm hòa quyện, trôi đến đâu, mướt rượt đến đấy! Ôi, mát cổ họng, mát dạ dày, mát ruột và mát cả “trời ông địa”! Ăn mắm phải ăn như thế mới đã, ăn ngấu ăn nghiến, ăn thoải mái không rụt rè, ăn một cách mạnh mẽ giữa thơ tình của chân đồng, góc ruộng, trong khoảng khoát lồng lộng của không gian thanh bình văng vẳng tiếng gà trưa. Còn gì bằng sau giờ lao động mệt nhọc được thưởng thức cái thú ẩm thực đượm đà của con mắm mà mơ màng dõi mắt theo hun hút cánh cò trắng muốt đang chao liệng trên ruộng lúa xanh rì?

Mắm trước hết là món ăn dân dã, nhưng để có được hương vị đặc trưng phải trải qua nhiều quá trình lắm công phu. Đầu tiên phải chọn con mắm chất lượng, tươi ngon, tẩm ướp với muối hột lâu năm theo bí quyết riêng, rồi lại ủ thính cho lên men đúng độ. Cuối cùng là công đoạn chao đường, cái khéo là phối hợp thành phần đường thốt nốt và cát trắng sao cho vừa đủ để con mắm “chín” màu đỏ tươi thật hấp dẫn. Công thức chung là vậy nhưng tùy loại mắm mà công đoạn khác nhau đôi chút. Mắm được chia thành hai loại chính là mắm đồng và mắm biển, ngon nhất phải kể đến các loại mắm lóc, mắm linh, mắm trèn, mắm sặc, mắm tôm, mắm ba khía. Với mắm cá, con mắm ngon phải đỏ tươi, mượt mà rỉ “nhựa” tỏa ra mùi thơm dìu dịu của thính, của đường kẹo lại, khi ăn phải đậm đà, thớ thịt dai không bở, nuốt rồi vẫn thấy cái ngòn ngọt đọng lại nơi kẽ răng, cuống lưỡi. Mắm của những loài giáp xác thì phải chua đủ độ, chua, cay, mặn, ngọt hòa quyện với nhau, không cái nào trội hơn, ăn một miếng tê tê đầu lưỡi khiến cho tất cả các tuyến nước bọt đều bị kích thích. Thưởng thức mắm ta thưởng thức cái tình, cái nghĩa ngọt ngào nồng đượm của sông nước quê hương.

Có một khi nào đó nằm vắt vẻo nhìn con chim chuyền cành trên nhánh khế sau hè, lay động chùm trái xanh non, chợt thấy vị giác nhàn nhạt, thiêu thiếu, thòm thèm cái gì đó trong nỗi buồn miên man không thể gọi tên. Ta đang nhớ mắm. Buổi chiều hôm đó, dưới đôi tay khéo léo của cô thôn nữ hồn hậu, rau lá miệt vườn lại kết duyên cùng con mắm tươi mòng làm nên mối tình thắm thiết, đằm thắm, ngọt ngào, xua tan đi nỗi buồn ban trưa. Mắm có thể ăn sống với rổ rau tập tàng để cảm thấy sự thuần khiết, chất phác, phóng khoáng nhưng không hề hời hợt của lòng người nơi sông nước. Cụ Vương Hồng Sển viết rằng: “Chúng ta có món “mắm và rau” tức là mắm kho rau sống, bông súng nguyên sợi, rau dừa nguyên cọng, nếu xắt nhỏ thì mất ngon, và phải tự tay nắm cả nùi rau, vò lại và ngắt đứt bằng tay, dồn tất cả vào tô, chan ngập nước mắm, và lua vào mồm, nhai nghe sồn sột, má phùng ra nín thở, miệng mồm choàm ngoàm đến không thốt được lời nào, và như vậy mới thật là khoái khẩu” (Sài Gòn tạp pín lù). Cầu kì hơn, người ta có thể chế biến mắm thành những món ăn tinh tế, mang cái hào nhoáng của sự sang trọng như những món từng làm ngự thiện nhưng thiết nghĩ trong con mắm bị ép tình đó đã vơi đi mất sự khoảng khoát, hào sảng của mảnh đất và con người làm nên con mắm.

Ông bà xưa có câu rằng: “Nam vô tửu như kì vô phong”, nam không uống được rượu thì như cây cờ ủ rũ khi gió lặng ngừng. Nhiều người sẽ phản đối, mắm mà đem nhắm rượu thì hỏng cả mắm, hỏng cả rượu mất thôi! Lão nông ăn mắm kì cựu chỉ cười cười rồi sai sấp nhỏ chạy ra vườn cắt dăm trái khế chua, vài quả chuối chát, tiện tay ngắt cho đầy rổ rau tập tàng, thêm ít quả ớt đỏ mọng, rồi bác nông dân có nụ cười ý nhị ấy tự tay chọn một khúc thịt ba rọi thiệt mượt mà tươi tắn, đem luộc cho chín, xắt miếng nhỏ, với tay lên chạn bếp mang gói mắm thái đã được gói kĩ càng mở ra, múc lấy mấy muỗng đầy cho sang bên của dĩa thịt sắp sẵn, rồi lại tất tả chạy sang tiệm tạp hóa hàng xóm mua cho kì được kí bún trắng nõn nà, mấy xấp bánh tráng măn phơi sương kèm một chai rượu còn đùng đục hạt nếp lên men. Này nhé, trên tấm phản gỗ đen mun đặt ở hàng hiên trước nhà, khách phương xa nhón tay gắp tí bún, tí thịt, tí mắm thái, lại thêm vào lát khế chua, lát chuối chát, vài cọng rau sống, lại rác lên chút gừng cắt nhỏ, bỏ vào trong miếng bánh tráng tròn đã thấm nước, cuộn lại cho khéo, chấm vào chén nước mắm chua ngọt pha sẵn, cắn kèm trái ớt chín đỏ, nhai từ tốn mà lòng dậy lên bao cảm giác khó tả. Ăn rồi đấy, giờ thì hãy nâng ly rượu nếp mà đáp lại cái tình hiếu khách của lão nông tinh tế, cụng cái tách, nhấm ly rượu thơm nồng, ta khà một tiếng rõ dài để cho thỏa cái khoái khẩu à không, khoái cả ngũ quan, khoái cả toàn thân thể. Thiệt là đã! Thiệt là “bắt”! Đừng có chê tôi là “bợm” nhé, chỉ là bữa nhậu tài tử, ấm nồng của những tri kỉ đồng điệu, phải lòng con mắm mà thôi. Chủ khách cùng khề khà trong thanh bình nơi thôn xóm, thưởng thức thú ẩm thực dân dã, mặc cho nhân tình thế thái xoay vần không ngơi nghỉ.

Thử hỏi những người con xa Tổ quốc, trong lòng họ nhớ những gì? Phải chăng có một góc dành riêng cho bữa cơm cá mắm dung dị, thơm lừng mà đậm đà tình nghĩa gia đình, tình nghĩa xóm riềng? Con mắm từ lâu đã len lỏi qua kí ức của cha ông, trở thành sợi chỉ kết liên nhiều thế hệ ở sông nước miệt vườn nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung. Với những ai đã trót phải lòng con mắm luôn cảm thấy hạnh phúc đượm nồng gần gũi trong vị mắm chua, cay, mặn ngọt. Con mắm đằm thắm, nhẹ nhàng vuốt ve cả ngũ quan của con người như một cô gái thôn quê chân chất, mặn mòi và khỏe mạnh chăm sóc người thương. Thảng hoặc, có lúc nào đó bỗng dưng lại dậy lên nỗi nhớ nơi nhau rún, thì hãy để cho con mắm đem cái duyên tình của quê hương làm vợi bớt đi nỗi niềm xa xứ.

Phan Khắc Huy
(thân tặng bạn Cat)

Có thể nói chẳng nơi nào sản vật lại phong phú như miệt vườn Nam Bộ. Một buổi trưa hè lạt miệng, sai sấp nhỏ nhanh nhảu len lỏi qua mấy liếp cây sau vườn là có dăm trái cam, trái bưởi ngọt thanh cổ họng hay lúc lắc chùm ổi giòn rụm kẽ răng, hoặc biết đâu còn cả quài chuối xiêm chín già, giấu mình kĩ sau những tàu lá mượt mà, xanh đến mát cả nắng ban trưa.

Cầm trái chuối trên tay, cũng nên bàn thêm một chút về việc ăn chuối. Ông bà ta xưa dạy rằng ăn chuối phải bẻ đôi trái chuối, ăn từng nửa, vỏ chuối phải lột ra từ từ giống như bông hoa đang nở rồi từ tốn cho vào miệng, vừa thưởng thức vị ngọt bùi dằn chút chua chua, vừa hít được mùi thơm làm dịu khứu giác, vừa nhìn được cái trắng nõn của ruột chuối. Ăn gắn liền với thưởng lãm, ấy mới đúng là con người lịch sự và phong nhã! Chuối cũng có nhiều loại mà cách ăn cũng khác nhau. Có loại ăn tươi khi chín như chuối xiêm, chuối cau.. Có loại ăn khi còn dốt dốt ngon mà đỡ ngán như chuối hạnh tiên, chuối già hương. Chuối sáp, chuối tá quạ thì phải nấu trước khi ăn. Riêng chuối xiêm (hay còn gọi là chuối sứ, chuối tây) chưa chín ăn có vị hơi chát, để chín già thì trong ruột vàng sẫm, ăn mềm mà ngọt dịu chứ không quá bùi dễ ngán như chuối già hay ngọt đậm như chuối cau. Lúc nông nhàn nằm vắt vẻo, đung đưa võng kẽo kẹt, con mắt xa xăm dõi theo cái xào xạc của tán lá làm lúng liếng những tia nắng trên khoảng sân, rồi chợt nhìn ra hàng hiên phát hiện quài chuối xiêm bỏ quên hôm nào vỏ đã thâm kim, chép miệng vài cái, rồi bật dậy, lột quả dừa khô, làm bánh chuối!

Chuối lột vỏ phải dùng dao đập cho dập ra, phải đập đều tay, chuối đập xong phải nhừ hết nếu không sau khi làm ăn sẽ lợn cợn. Xong rồi vắt nước cốt dừa, lấy một ít thôi, quấy bột gạo, cho thêm vài thìa đường cát trộn chung vào, nhớ dằn thêm chút muối. Sai đứa nhỏ nhanh chân ra bụi chuối đằng sau, chọn một vài tàu lá không già quá mà cũng không non quá còn nguyên vẹn, bảo nó cắt nhẹ tay một chút để tàu lá không bị rách ngang, mang vào lót xửng. Xửng và lá được thoa chút dầu, rồi đổ hỗn hợp chuối đã trộn đều vào, bắc lên hấp. Phần nước cốt dừa còn lại ở trên thì sên với lửa riu riu, cho đường, bột, tí muối rồi cắt thêm mấy cọng hành lá. Khi nắng chiều vàng bắt đầu rải mỡ màng lên đọt dừa soi bóng con mương nhỏ thì màu bánh chuối cũng đã trong lại – bánh chín rồi đó. Bánh chuối hấp chín cắt lát mỏng, chan nước cốt dừa lên, rắc thêm đậu phộng đâm nhuyễn hay ít mè rang. Chao ôi cái ngọt thanh thanh của bánh, cái bùi cái béo của nước cốt dừa, của đậu phộng, đượm thêm chút thơm của hành lại phảng phất hương quê từ tàu lá làm mê tơi vị giác, khiến cho lòng dịu mát. Bưng dĩa bánh ra gốc bưởi sau hè, trong râm mát của tán lá, tha thiết tiếng ve gọi hè, ta nuốt trọn cả tình quê.

Bánh chuối nhiều khi ăn với chút cầu kì, người ta thêm vào bánh bò, điểm xuyết chút xanh của bánh lá. Tôi còn nhớ, thuở nhỏ sống trong khu nhà tập thể của cơ quan mẹ, ngôi nhà cũ kĩ, tường quét vôi vàng loang lỗ, có khung cửa sắt chín ô luôn đầy ắp những tia nắng xiên xiên qua kẽ lá của cây xoài cổ thụ. Trong mơ màng giấc ngủ trưa, xa xa vang vọng tiếng rao “Ai ăn bánh chuối, bánh lá, nước cốt dừa hôn…”, lập tức tôi vùng dậy, chụp ngay cái dĩa để sẵn trên cũi gỗ, không quên xin mẹ vài trăm đồng lẻ phóng một mạch ra trước cổng cơ quan, vừa đúng lúc bà Hai hạ gánh bánh chuối xuống vệ đường. Người ta quen gọi bà là bà Hai bánh chuối, người gầy, dong dỏng cao, miệng hơi móm cùng nụ cười hiền hậu, nhanh tay cắt những bánh lá, bánh chuối, bánh bò rồi rưới lên 1 vá nhỏ vung nước cốt dừa thơm ngầy ngậy, riêng tôi, khách quen, lúc nào cũng được ưu tiên nhiều hơn một chút.

Bánh của bà Hai ngon lắm! Bánh chuối không quá ngọt, không quá béo, không quá dẻo, nó vừa đủ để người ta ăn xong vẫn thòm thèm. Bánh lá vừa thơm vừa ngòn ngọt vị đường, vị lá dừa nước, vừa ngai ngái mùi lá mơ, lại mang cái giòn dai của bột vừa chín tới. Bánh bò không dai mà xốp, có mùi thơm nhẹ thoảng chút chua nhẹ của rượu. Đặc biệt là nước cốt dừa, mèng đéc ơi, đó là vị nước cốt ngon nhất mà tôi đã từng ăn, nó thanh mà không gắt, bùi mà không ngấy, thơm dìu dịu của mùi dừa mới nạo, tịnh không một chút hăng hăng của dầu, lại hòa quyện với mùi hành lá được xắt mỏng rất khéo. Tất cả hòa quyện, tạo thành dĩa bánh đầy vung thực hấp dẫn, thực quyến rũ. Tôi ăn từ tốn từng miếng một, luôn chừa bánh chuối ăn sau chót, lại vét cho kì hết đến giọt nước cốt cuối cùng. Hôm nào ngủ quên, không mua được bánh thì lòng tiếc hùi hụi, hụt hẫng như đứa trẻ bị giựt lấy kẹo khi sắp đưa vào miệng, hụt hẫng như con kiến vàng bò ra bò vào cành cụt.

Có ngày mưa tưới nước ăm ắp lên khoảnh sân trước nhà, tiếng bà Hai bánh chuối như lạc đi giữa cái ào ạt của cơn mưa mùa hạ, cái dáng xiêu xiêu oằn nặng quang gánh gập ghềnh dẫm nước mà đi. Bà ghé vào hàng hiên của căn nhà tập thể để mời gọi “Hôm nay mưa, ế quá con ơi ….” Vậy là hôm đó khách quen cùa bà đã phá lệ mà mần luôn hai dĩa ngon lành. Mẹ tôi men theo hàng ba sang những nhà bên cạnh, gọi mọi người giúp làm nhẹ đi những chồng bánh ế chiều mưa. Bữa bánh tuy nhàn nhạt lẫn chút nước mưa nhưng thấm đẫm cái tình cảm thông, chia sẻ. Vị bánh thật lạ như được rưới thêm sự mừng rỡ, tươi tắn của nụ cười móm mém hiền từ. Sau này, cứ mỗi lần ăn bánh chuối, tôi lại nhớ da diết dĩa bánh ế chiều mưa hôm đó, ấm áp lắm!

Tuổi thơ tôi đầy ắp những lời rao, mà có lẽ “Ai ăn bánh chuối, bánh lá nước cốt dừa hôn ?” là lời rao quyến rũ nhất. Một món ăn dân dã, “nhà quê” lại hợp túi tiền luôn làm thỏa cái vị giác thòm thèm của đứa con nít đang lớn. Ăn bánh chuối, ta tiêu hóa cái hồn của đất, cái thanh sắc của cây lá miệt vườn và cả cái tình của người thôn quê khéo léo. Thoảng theo hương thơm dịu nhẹ chợt hiện về những miền kí ức trong trẻo. Cắn miếng bánh mà nhai từ tốn để thấy lòng chợt thanh thản, quay về ấn ngụ trong tuổi thơ ăm ắp niềm lạc quan, vô tư lự.

Phan Khắc Huy

Tui chắc rằng chục bạn đọc cái tựa này đều có một thắc mắc chung: quái, đã sang sao mà còn bình dân, tên viết bài này rõ… hâm? Tui khẳng định mình không phải nhà ngôn ngữ học nên không có ý tưởng sáng tạo từ mới thêm vào từ điển tiếng Việt, chẳng qua tui chỉ vô tình nghĩ đến chữ này khi đầu tháng, túi rủng rỉnh tiền, chơi sang, đi ăn bít – tết.

Sinh viên du học Sài thành, như tui, như nhiều bạn khác có lẽ vui vẻ và thoải mái nhất là vào đầu tháng, được gia định gửi tiền lên chi viện, ví dày mà lòng thơ thớ. Trừ đi dăm khoản tiền nhà, tiền net, tiền lặt vặt, còn lại là tiền ăn cả tháng, tự nhiên sẽ nổi lên cái hứng thú đi ăn gì đó cho sảng khoái khẩu vị, để bồi dưỡng cái bao tử tội nghiệp mấy ngày cuối tháng thiếu ăn! Ăn một bữa, bằng tiền ăn cả ngày thường, ăn ngon hơn mọi ngày, ăn nhiều hơn mọi ngày và ăn thoái mái không quan tâm đến giá cả, như vậy đã là ăn sang rồi đó! Người đi làm rồi, thu nhập kha khá thì sẽ ăn sang theo kiểu có tiền, sinh viên đi học, còn cậy nhờ cha mẹ thì ăn sang theo kiểu sinh viên, ăn sang một cách bình dân! Người ta có đô-la, chạy đi-lăng, mang kính Gu-chi đi nhà hàng khách sạn Ca-ra-ven ăn buyp-phê, tui, xài tiền Việt, đi xe cub, đeo kiếng cận rẽ vào ngõ đối diện Đại học Bách khoa, ăn bit-tết.

Cái sự ăn sang bình dân cũng có lắm lựa chọn, đơn giản nhất là ghé vào quán quen gọi những món ngon nhất, đắt nhất, , ngồi ghế nhựa mà chờ chủ quán bày lên bàn nhỏ, nhìn no con mắt, rồi bắt đầu từng món từng món trôi xuống dạ dày một cách chậm rãi, ngon lành. Cách ăn sang thứ hai đó là ăn những món khác với mình ăn thường ngày, không cháo, không cơm, không phở, ta ăn bánh mì cà ri, bánh mì bit-tết, hú tíu “sư phụ”… Nếu như bạn chung phòng trọ lãnh tiền cùng ngày với ta thì rủ nhau sang quán nhậu vỉa hè, gọi mấy chai Sài gòn đỏ rồi lựa mồi cho bắc, khè khà cụng vài ly mà vui say với nhau một bữa gọi là. Ai đã có đôi có cặp rồi thì chờ chiều mát mà chở nhau đến quán tinh tươm, có bảng hiệu, ghế cao, lịch sự, mà nhìn nhau ăn cũng hả dạ hoặc rủ nhau mua ít thứ, tìm đến nơi gió mát trăng thanh mà trải bạt ra làm tiệc nho nhỏ với nửa của mình, có thể ở trên cầu Thủ Thiêm chẳng hạn, còn gì bằng vừa ăn, vừa tâm sự với người cùng hòa điệu yêu đương. Lại có bạn hơi chút cầu kì, trước đó đã để ý đến một quán ăn ngon được nhiều người giới thiệu mà giá cả trong tầm tay sinh viên, quán thường chuyên một món, đợi đầu tháng có tiền rồi là vù ra đó, vừa kiểm chứng được lời bạn vừa hỉ hả tấm lòng vì cũng được chút tiếng sành ăn. Riêng tui, một ngày đầu tháng không gì bằng làm chầu bit-tết, tất nhiên là bit tết ở ngõ hẻm bách khoa chứ không phải Hỏa Diệm Sơn hay bánh mì tươi Võ Văn Tần đâu, có hai trứng ốp-la, thêm lát pa-tê kèm hai ổ bánh mì nóng dòn rồi thong dong đi bộ một quãng cho dạ dày tiêu đi phần nào, đến tiệm đầu ngõ nhâm nhi thêm ly sinh tố mãn cầu mát lạnh cùng thằng bạn thân. Mặc kệ bạn cười tui, ăn gì mà ham quá – đã nói nhẹ đi, tui vẫn vỗ bụng mà ợ lên một tiếng sung sướng làm sao!

Bạn hãy nhớ xem, những ngày cuối tháng, nằm vắt vẻo trong phòng trọ, nhìn những gói mì lăn lông lốc ngán tận cổ, mà tưởng tượng đến bữa ăn sang- bình dân sắp thành hiện thực sẽ tạo nên niềm hứng khởi khó tả giúp vượt qua cơn đói dày vò. Con người khi sống trong sự tính toán chi tiêu thường không được thoải mái tinh thần, buổi ăn sang- đầu tháng như một sự lạc quan, phóng khoáng của đời sinh viên, giải tỏa được áp lực căng thẳng trong cuộc sống xa nhà. Có thể sau này tui sẽ được nhiều cơ hội thưởng thức những món ăn ngon lành mà sang trọng được bày biện theo trường phái ẩm thực nào đó nhưng tui sẽ không bào giờ quên được cảm giác sảng khoái, vui vẻ trong bữa ăn sang bình dân đầu tháng.

Bạn lãnh tiền chưa? Đi ăn cùng tui nha!

Khắc Huy

Thi sĩ Tản Đà phát biểu rằng: “Đồ ăn ngon/ chỗ ngồi ăn không ngon/ người ngồi ăn không ngon/ không ngon! Đồ ăn ngon, chỗ ngồi ăn ngon/ người ngồi ăn không ngon/ không ngon! Đồ ăn ngon/ người ngồi ăn ngon/ chỗ ngồi ăn không ngon/ không ngon!…”

Lại nữa, theo Vũ Bằng món phở ngon phải hội đủ “một nhúm bánh phở; một ít hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau thơm xanh biếc; mấy lát gừng màu vàng thái mướt như tơ; mấy miếng ớt mỏng và đỏ màu hoa thiên vừa đỏ sẫm như hoa lựu…trên tất cả những thứ đó, người bán hàng thái thịt bò từng miếng bày lên…chỉ còn phải lấy nước dùng và rắc một ít hạt tiêu, hay vắt mấy giọt chanh (nếu không là tý dấm)…” Việc ăn quả thực cầu kì trong mắt người xưa. Saigon hôm nay cũng không ít người sành điệu, chỉ một cú nhấp con “mao” ta đã biết ăn vằn thánh phải đến Hà Tôn Quyền, nhấm nháp bột chiên phải ra Võ Văn Tần. Rồi thì cả một thế giới quán xá trong hun húc những con hẻm sài thành sẽ hiện ra sau cú gõ google kèm theo lời chỉ dẫn tận tình của những netizen sinh viên cũng eo hẹp hầu bao như tui vậy.

Ăn, với tui trước hết là một lạc thú. Thử tưởng tượng, trong cái nóng bức của trưa phương nam, bụng đói cồn cào, ta ngồi xì xụp húp tô canh chua me dầm, có màu đỏ của cà, màu vàng của khóm, màu xanh của bạc hà, rau thơm, màu trắng của giá thêm chút nâu giòn của tỏi phi, chút cay của ớt xắt, nhẹ nhàng đưa đôi đũa dẻ lấy khứa cá lóc trắng phau (đương nhiên là mỏng lét), chấm vào dĩa nước mắm đậm đà rồi nhấm nháp, và cơm, thêm một ngụm canh nữa. Chao ôi mát cả lòng, thỏa cả dạ. Các bạn sẽ cười tui, nghèo mà còn ham phức tạp, xin thưa rằng không đâu ạ, tui nào có cầu kì, canh chua thì ở đâu chẳng bán nhưng quan trọng khi ăn nên để ý một chút, hãy nhấm nháp để tìm ra cái thú vị của từng cọng rau, cái màu sắc của từng loại nguyên liệu. Chỉ mất vài phút thôi bạn à nhưng nó sẽ làm cho bữa ăn cá thì ít mà canh thì nhiều của chúng ta trở nên hấp dẫn.

Trời vừa xẩm tối, tui móc điện thoại ra nhắn tin cho thằng bạn thân, “ Qua tao đi ăn nha mậy”. Bạn đừng lầm tưởng rằng hôm nay là đầu tháng, chơi sang dẫn bạn đi ăn kẻo mà lầm đấy! Chỉ là mời nhau kiểu Mỹ, ta đi ăn chung nhưng của anh, anh trả, của tui, tui trả, và ví ai người đó rút. Thế là thành “một đôi” đi ngồi tiệm, nói tiệm cho sang thế thôi thực ra cũng chỉ là dăm cái bàn, vài cái ghế được che chắn bên hàng hiên con hẻm, đơn giản mà vui vì ta có bạn ngồi cùng. Ăn ngon là phải được nói, ăn là nạp vào, nói là xả ra, như vậy mới cân bằng được. Chuyện trường, chuyện lớp, chuyện tình yêu, chuyện gẫu hứng cứ thế tuôn ra trên chiếc bàn nhỏ với những món ăn bình dị trong không gian ồn ã thanh âm cuộc sống. Một cơn gió thoảng qua xoa dịu đi chút mồ hôi lấm tấm đọng lại sau tiếng hít hà no nê của đôi bạn hàng quán. Hãy cảm nhận đi, cuộc sống thi vị lắm đấy!

Ăn ngon với tui không có nghĩa là phải đi đúng quán, ăn đúng món trong một không khí lịch sự sang trọng. Ăn ngon chỉ đơn giản là được ăn khi đói, không phải ăn một mình và ăn phải thật thoải mái. Ông bà ta có câu khi đói thì ăn cái gì cũng ngon, đời nay vẫn đúng, khi đói cái bao tử của chúng ta làm kích thích sự “thèm”, có “thèm” thì mới có hứng ăn. Chỉ ăn khi đói làm thỏa mãn một nhu cầu, thỏa mãn cho bản thân sau những giờ mệt nhọc, chỉ ăn khi đói còn làm giảm cho ta nguy cơ béo phì quá cỡ vì hay ăn vặt, ăn vô tội vạ. Được ăn và được nói chuyện với người hợp ý mình làm tăng hưng phấn cho bữa ăn, dù thức ăn chỉ bình dân, đơn giản nhưng cảm giác ngon miệng tăng lên rất nhiều so với khi ta chỉ ngồi một mình trước món ngon vật lạ. Bởi khi ấy, “ợ” lên một tiếng phải cố nén lại, hít hà một hơi không ai cười cùng, chán lắm thay! Và ăn ở một khoảng không gian khoảng khoát khí trời, không quá ồn ào, không mùi máy lạnh, tự do hít thở căng đầy oxi của không khí, ăn mà không bị ép, ăn mà không gò bó đó chính là ăn thoải mái. Xì xụp, rột rột, xuýt xoa, tất cả những thanh âm ấy trong một hàng quán bình dân thật gần gũi mà giản dị, nó hơn cả tiếng nhạc từ dàn âm thanh hiện đại trong một phòng ăn bóng loáng, nó đơn giản là một thứ gia vị của cuộc sống nên nếm thêm cho lành, cho ngọt cái đơn sơ của bữa ăn sinh viên thường ngày. Ăn cho ngon đâu quá phức tạp phải không?

Khắc Huy

Lời tâm sự: Tui sinh ra và lớn lên trong thời kì mà các cô, chú, bác, dì cậu gọi là đổi mới. Tui năm nay 23 tuổi, đang học đại học tại TPHCM. Tui xưng tui bởi tui là dân Nam bộ. Với một người Nam Bộ, chữ “tui” không chỉ là đại từ xưng hô khẳng định chính mình mà còn mang một sắc thái biểu cảm sự thân mật trong giao tiếp. Tui, chỉ là một thanh niên mới lớn, trong một xã hội mới, một con người nhỏ bé, đơn lẻ trong cộng đồng người Việt. … Con người, nhất là những người mới trưởng thành như tui thì thường hay suy nghĩ, có thể đó là những trăn trở về cuộc sống, về tương lai của chình mình hay nhiều khi chỉ là sự mông lung của tâm tưởng khi để nó lãng đãng trôi đi không kiếm soát. Tui viết những dòng này không phải để chứng tỏ một điều gì, không phải để trở thành một nhà phê phán, phản biện gì gì đó. Với tui, viết là để giải tỏa, để chia sẻ, để biết là mình không thờ ơ, không lãnh đạm với cuộc sống này. Tui đặt cho những bài viết theo phong cách này là “1001 chuyện … tào lao”. Mời bạn cùng chia sẻ...

Có một bạn gái “hiện đại” hỏi tui nấu ăn có khó hay không? Xin thưa là nấu ăn không khó nhưng ăn được mới là chuyện khó.

Ăn cái gì bây giờ?

Tui không giấu giếm, một trong những lý do tui dọn đến chỗ trọ hiện nay là vì nơi này có nhiều đồ ăn ngon mà… rẻ. Sáng bước chân khỏi nhà, bà bán xôi liền nhắc hôm nay có ăn không? Đi mua bánh mì, ông bánh mì hỏi sao không ăn bánh bao. Trưa thì ôi thôi, cơm nhiều món nhìn đâu cũng muốn nếm. Và đến tối thực sự bối rối vì không biết phài làm khách của quán nào. Nói “đại gia” thế cho vui chứ sinh viên như tui phải tính toán kĩ càng nên ăn cái gì hằng ngày để cuối tháng không phải dùng nước mắm (pha nước mắt) dầm cơm!

Dạo quanh Saigon một chút, ta dễ dàng nhận ra Saigon đang bùng nổ những quán ăn, sang trọng có, bình dân phần nhiều. Dân số cứ “phình” lên nên cái ăn trở thành một nhu cầu lớn cần được đáp ứng. Tui có cảm giác càng lúc càng đông sinh viên lên thành phố trọ học nên đi đâu cũng thấy nhiều dịch vụ gắn thêm mác sinh viên phía sau: phòng trọ sinh viên, cơm sinh viên, sinh tố sinh viên, cà phê sinh viên và vá xe cũng sinh viên. Sinh viên dần dà đã trở thành đối tượng phục vụ chính.

Tui hãy ăn quen quán nào thì chỉ ăn quen quán đó, ít khi thay đổi, bởi quán quen thì mình sẽ được ưu tiên nhiều cơm, nhiều đồ ăn hơn. Riêng tui, khi đến một quán cơm thân thiết gần chỗ trọ thì tráng miệng được tặng thêm một quả chuối. Sinh viên sống kham khổ, ăn uống qua loa ít chất xơ thì thêm một quả chuối nữa sẽ khiến cái trực tràng mừng lắm lắm! Bởi thế tui nghĩ các bạn nào mới lên Saigon nên hỏi những đàn anh đi trước xem quán cơm bình dân nào sạch sẽ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm rồi hãy đóng đại bản doanh ở đó, sau đó mới tính tiếp chuyện hôm nào “chán cơm thèm phở” vậy.

Tạm ổn chuyện ăn cơm, ta bàn sang chuyện “ăn phở, ăn nem”. Saigon ngoài cơm ra thì món ăn ba miền thật phong phú, bởi đơn giản đây là nơi giao thoa của nhiều nguồn văn hóa. Điều này cũng khiến cho bữa ăn chính của sinh viên thêm đa dạng, bây giờ sinh viên không phải chỉ ăn đề no mà còn vô số sự lựa chọn cho mình. Trong nhiều khu trọ sinh viên, các quán phở, hủ tíu, bún bò huế cũng gia tăng số lượng theo tỉ lệ phần trăm dân số sinh viên khu đó. Tất cả đều chung một giá và hiện thời đều có mặt bằng 12000- 14000 đ 1 tô. Sinh viên đại gia ăn phở 24, hủ tíu Liến Húa, bún bò Thành nội, sinh viên bình dân ta cũng ăn phở cô ba, hủ tíu bà tư và bún bò chú mập. Cũng bột gạo, tái gân, nạm mỡ như ai lại được cái thoải mái trò chuyện trong cơn gió mát thổi ngang vệ đường. Có một điều lạ tui thường thấy là ăn ở quán sang trọng người ta cũng thường cố tỏ ra sang trọng và nghiêm túc như cho hợp với không khí ở đó, tui mà cứ căng cứng ( không phải cương) như thế thì ăn mà không biết mình đang ăn gì. Trở lại với các món mặn có nước bình dân, nếu một ngày nào đó bạn muốn thay đổi khẩu vị thì tui chỉ cho bạn một mẹo. Trước hết hãy ghé lò bánh mì gần nhất mua bánh mì không nóng giòn, rồi kêu một tô soup tái gân, lấy nước bún bò, nặn vào hai lát chanh, thêm muỗng ớt sate, vài khoanh ớt tươi, lặt thêm ít rau thơm, kinh giới rồi thủng thẳng bẻ từng miếng bánh mì giòn rụm chấm vào mà thưởng thức. Ôi cái chua, giòn, cay, mặn ngọt hòa quyện vào nhau thiệt là đã làm sao. Trong âm nhạc, ta có bài “remix”, trong món ăn ta cũng “remix” món ăn vậy.

Thật là thiếu sót nếu tui đây không ráng mấy dòng về ăn vặt. Sinh viên không ăn hàng không phải sinh viên. Được một điều, hàng rong Saigon đủ vị mà giá lại khá phải chăng, Khu tui ở là phường nhỏ của quận 10 nhưng đếm cho kĩ cũng thấy gần hai chục người hàng xén bán đa số là bánh, nào là bánh bò, bánh tiêu, bánh chưng, bánh giò, có cả bò bía, gỏi cuốn rồi đủ các loại chè, à và còn một món không thể thiếu: bánh tráng trộn khô bò. Rẻ lắm, chỉ độ 2-5 ngàn đồng là bạn có thể làm mất đi cái lợt lạt của lưỡi, của họng trong những trưa nắng nóng oi nồng. Riêng tui, còn gì bằng khi buổi trưa làm bữa cơm bình dân no nê xong lại nhấm nháp bịch chè bắp ướp lạnh có phủ lên lớp nước cốt dừa béo ngậy? Có cả đậu xanh, sương sáo cho bạn nữa đấy. Bạn sẽ dễ dàng nhận ra xe chè từ xa với bà bán đội nón lá, mặc áo tay dài, nói giọng miền ngoài đứng bên chiếc xe đẩy tay hai bánh lớn, hai bánh nhỏ chia hai ngăn, ngăn trên là những nồi, thau đủ loại chè, ngăn dưới là thau nước rửa ly kề bên thùng đá bào nhỏ, lỉnh kỉnh ly chén. Xe chè nào cũng có dù nhỏ và dăm ba ghế nhựa cho khách bộ hành tạt vào thưởng thức. Riêng bà bán chè trước của nhà trọ của tui bật mí rằng một ngày bán hơn ba trăm ly, 1 ly vị chi 3 ngàn đồng, trừ phi phí cũng lời khoảng ba trăm đến bốn trăm ngàn. Than ôi, bàn chè còn hơn cả lương cứng của bác sĩ sáu năm đèn sách ! Thất nghiệp, tui đi bán chè, các bạn nhớ ủng hộ quán chè “Y khoa” của tui nha!

Cuối cùng ta làm một con tính, sinh viên bình dân ăn một ngày 3-5 ngàn tiền sáng, 16-24 ngàn cho bữa trưa và tối (tùy khu vực nội hay ngoại thành) kèm thêm 3 ngàn ăn vặt, vị chi khoảng 20- 30 ngàn một ngày là đủ chất lượng để học tập. Nếu túng quẫn quá bạn có thể gộp hai bữa ăn làm một cho đỡ chi phí mà vẫn đủ dinh dưỡng khi biết cách ăn. Làm sinh viên cũng phong lưu lắm thay!

Khắc Huy

Có người nói với tôi rằng mình không thích âm nhạc bởi âm nhạc nó mơ hồ quá và cái kết của bản nhạc nhiều khi chỉ là sự lửng lơ của cảm xúc, anh thích kịch hơn bởi cuối vở kịch luôn cho đáp án rõ ràng. Tôi chỉ cười trừ, rồi hỏi anh có xem nhạc kịch chưa? Đối với tôi, âm nhạc là những đoạn ngắn của cảm tính bất chợt ùa đến, đạt đến sự tới hạn rồi hòa tan đi theo cung nhịp. Một bản nhạc hay sẽ làm cho sự tới hạn đó giữ được cường độ khiến cho mạch cảm xúc vẫn tiếp tục giao thoa với sóng âm còn đọng lại dù nhạc đã dứt từ lâu. Âm nhạc chính là sự hòa hợp khéo léo giữa cái cảm tính vô qui luật của tâm hồn con người với cái luận lý, logic của sự sắp xếp trình tự những nốt nhạc, những dấu thăng, dấu giáng… trên khung kẻ.

Tôi là người nghe nhạc khó tính, không phải nhạc nào tôi cũng nghe được. Chẳng phải vì tôi bảo thủ, không chịu tiếp nhận những cái mới, tân thời mà chỉ đơn giản là vì có những bản nhạc mới không gợi cho tôi chút cảm xúc nào, hay những cảm xúc gợi lên nó bình thường quá, chóng có rồi chóng quên. Có thể ở xã hội hiện đại, con người, trong đó đó tất nhiên có nhiều nhạc sĩ bị nhịp sống cuốn đi nhanh quá, rung động chưa kịp lắng lại đã bị “nhét” vào dòng kẻ nhạc chật chội thành ra nhịp điệu trở nên gò bó trong motip cũ, méo mó, cá nhân, lạc mất “điệu đời”. Hình như nhạc điệu bây giờ đã mất đi cái khoảng khoát, bao la, rộng lớn của tâm hồn người nghệ sĩ sắp đặt, cùng là 5 dòng kẻ như nhau trong dòng nhạc nhưng có lẽ âm nhạc ngày xưa lấy sự gọn gàng đó làm ngòi cho sự bùng nổ, mở toang cánh cửa của thính giác để ta chìm đắm vào sự vi diệu của thế giới thanh âm còn nhạc bây giờ chỉ là những lời nói, lời kể lể, than vãn, trút xả đi cái chán chường, thất vọng cùa cuộc sống hời hợt, vội vàng. “Lòng đâu phụ nhau thêm nữa, khi mai không còn có nhau” đã nhường chỗ ngân nga cho “… hứa thật nhiều, thất hứa thì cũng thật nhiều nỡ quay lưng đi để ngườI ta khóc”. Quả thực là khập khiễng khi đem so sánh dòng nhạc trữ tình mang tính chất bác học với dòng nhạc thị trường bình dân nhưng nếu xem tất cả đều có nguồn gốc chung là thanh âm của “cuống phổi nhân quần” thì với tôi, âm thanh bây giờ sao khó nghe quá!

Một người bạn sau khi đi xem LiveShow “Riêng một góc trời” của nam ca sĩ Tuấn Ngọc đã nhận xét rằng nhìn giá vé tưởng chương trình hoành tráng lắm hóa ra… “quê mùa”. Với khán giả hiện nay, liveshow của ca sĩ hầu như phải gắn với âm thanh, ánh sáng hiện đại, sân khấu trang trí lộng lẫy, to lớn như danh tiếng của người biểu diễn. Người ta đi nghe nhạc trước hết là muốn được thỏa mãn cái “nhìn” trước rồi mới đến cái “nghe”. Ca sĩ được công nghệ biểu diễn tôn vinh lên, lộng lẫy, hào nhoáng trước sự cuồng nhiệt của đám đông hâm mộ. Hình ảnh đó đẹp lắm chứ nhưng nó làm cho người nghệ sĩ có vẻ xa vời, đứng trên khán giả nhiều quá. Trở lại đêm diễn của nam danh ca đã đứng tuổi, Tuấn Ngọc, tôi lại thấy thật mộc mạc, gần gũi và thân mật. Tuấn Ngọc đi đi lại lại trên sân khấu nhỏ, phía sau ông là dàn nhạc, có chiếc bàn đặt sẵn ly nước mát, để trò chuyện với thích giả về những tình khúc sắp được trình bày. Thính giả không phải đi xem dung nhan của Tuấn Ngọc vì khuôn mặt của ông đã bị nhiều nếp hằn của thời gian, người ta đi thưởng thức giọng hát trầm ấm, đong đầy xúc cảm của ông dù cho giọng hát đó không còn dài hơi như xưa nữa. Và liveshow “Riêng một góc trời” đã chứng tỏ rằng khi âm nhạc cất lên thì không còn ranh giới của tuổi tác, của thế hệ, của suy nghĩ, tất cả đều được hòa vào không gian thính phòng tràn ngập giai điệu yêu đương lả lướt mà sống động. Âm nhạc phải thỏa mãn được thính giác thì mới gọi là âm nhạc.

Mấy dạo gần đây rộ lên nhiều vụ “đạo” nhạc bị phanh phui, thậm chí có những cộng đồng mạng kêu gọi kí tên phản đối, tẩy chay một nữ ca sĩ nhiều lần “đạo” nhạc. Nghĩ mà thực buồn, buồn nhưng không lấy làm lạ, bởi chính người viết cũng đã gặp chuyện tương tự. Một bài cảm nhận âm nhạc của tôi viết trên blog cá nhân đã lâu, được đăng trên báo Văn nghệ Trẻ địa phương, bẵng đi một thời gian hai năm, bỗng bạn tôi nghe đọc bài đó trên chương trình phát thanh LSX, tên tác giả vẫn là tôi mà địa chỉ gửi bài không phải của tôi! Sau hai ngày lặn lội lên đài để thông báo, tôi mới gặp được một anh phó ban hứa hẹn xem xét rồi liên lạc lại, từ đó đến nay hơn nữa năm rồi vẫn bặt vô âm tính. Chẳng phải tôi vì ham thích chút nhuận bút mà cất công đến như vậy, tôi chỉ muốn công sức của mình phải được công nhận là của mình, một sự công bằng quá bình thường. Có thể chuyện của tôi chỉ là chuyện nhỏ nên một chương trình lớn như LSX không quan tâm đến nhưng chính vì sự xem thường chuyện nhỏ như vậy mà bây giờ có nhiều người bỏ qua danh dự, dửng dưng lấy sáng tác của người khác để tôn vinh tên tuổi cho chính mình mà không cảm thấy xấu hổ. Âm nhạc là sáng tạo của cá nhân, mang đến sự giao hòa cho cộng đồng, bất cứ hành động nào vi phạm quyền sở hữu sáng tạo đó đều cần bị phê phán mạnh mẽ.

Người viết bài này không có ý định trở thành một nhà nghiên cứu, phân tích về đời sống âm nhạc. Tất cả chỉ là những suy nghĩ riêng của kẻ nghe nhạc “nghiệp dư” muốn chia sẻ cùng bạn yêu nhạc. Mỗi người đều có suy nghĩ, sở thích, thị hiếu riêng về âm nhạc, không thể áp đặt của người này lên người khác. Người viết chỉ muốn nhắn nhủ là âm nhạc cần phải có sự chắt lọc, chỉnh chu, bao hàm được sự tự do, khoảng khoát mới nuôi dưỡng, vun đắp cho tâm hồn con người ngày một hoàn thiện.

Phan Khắc Huy